Friday, Sep 10th

Cập nhật vào:02:32:30 AM GMT

Đang ở: Nghiên Cứu và Huấn Luyện

Nghiên Cứu và Huấn Luyện

Bài 6 - Người Lãnh Đạo

NGƯỜI LÃNH ĐẠO

                                                                                 

Vài lời mở đầu của Đại Đức Thích Phổ Hòa :

Hôm qua vừa ở nhà thương về, Trưởng Quảng Quý gọi và bảo gởi cho một bài của Chương Trình Tu Học Trường Kỳ Huynh Trưởng Bậc Định.  Tôi hỏi: bài gì?  Trưởng trả lời: NGƯỜI LÃNH ĐẠO, và kỳ hẹn xin ba ngày giao bài.  Trao đổi với nhau vài câu nữa… và cuộc điện đàm chấm dứt.

Tôi ngồi vào bàn viết.  Đêm càng về khuya, cảnh chùa càng u tịch, trang nghiêm, lãng đãng mùi trầm hương quyện vào mùi thơm của hoa trái trước chùa, làm tôi ngây ngất mơ màng như đang hít thở cái không khí của những chiều mưa ở cố đô Huế, những thập niên ba mươi, bốn mươi.  Theo đà chấn hưng phật giáo do Ngài Thái Hư Đại Sư lãnh đạo.  Việc thiết lập Phật Học Viện đủ cả ba cấp; Sơ Đẳng, Trung Đẳng, và Cao Đẳng.  Bác Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám phát triển Hội Phật Học, xuất bản tạp chí Viên Âm và thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Tử một cách có tổ chức và sinh hoạt có quy cũ.

Nhớ lại mới ngày nào Gia Đình Phật Hóa Phổ những ngày mới thành lập với lẻ tẻ vài ba đơn vị, mỗi chiều chủ nhựt Thầy Minh Châu, Thầy Thiên Ân, Thầy Đức Tâm, Thầy Trí Không đạp xe về các Gia Đình Hướng Thiện, Gia Thiện, Chơn Tri, Hương Đạo, Hương Từ, các gia đình bắt đầu lớn dần, rồi các Thầy Cố Vấn đi Colombo, đi Nhật, đi Ấn Độ, đi Âu Châu du học.  Năm 1951, gia đình Phật Hóa Phổ ở Huế có được mười (10) đơn vị gia đình, Hà Nội, Hải Phòng, Saigòn bắt đầu có Gia Đình Phật Hóa Phổ.

Quan trọng nhất vào những ngày 24, 25, 26 tháng 4, năm 1951 tại chùa Từ Đàm các Anh Chị ở Hà Nội, Hải Phòng, và Saigòn về họp ở chùa Từ Đàm và tên Gia Đình Phật Tử ra đời.  Song song với sự lớn lên của tổ chức, các Trại Huấn Luyện, các khóa tu học được tổ chức đều đặn.  Sau ngày Đaị Hội lịch sử tổ chức ở chùa Từ Đàm, Đoàn Huấn Luyện Viên lưu động chúng tôi ra Quảng Bình, Quảng Trị, vào Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Đà Lạt, Saigòn, mở các khóa tu học, các Trại Huấn Luyện, các sách báo bắt đầu phát hành, trước tiên là tập Đây Gia Đình, tập Mùa Sen Mới, những tập Mùa Học Đạo, với các tập sách nầy, các Anh Chị Trưởng có tài liệu để học tập.  Họ thấy sự lớn mạnh của tổ chức, hiểu rõ thêm về trách nhiệm và bổn phận của mình, thêm niềm tin vào tổ chức Áo Lam, họ nhận thấy Tổ Chức GĐPT Việt Nam như đóa sen sung sức đâm chồi nẩy lộc từ đất Thần Kinh, rồi dần dần trải rộng đến mọi miền quê hương, và gần đây lan tỏa cùng khắp hải ngoại.  Người Huynh Trưởng là sứ giả của Tổ Chức, nguyện trọn đời phụng sự Đạo Pháp, phụng sự GĐPT.  Là sứ giả, người Huynh Trưởng nhận mệnh lệnh của chính mình, mệnh lệnh của con tim, khối óc của Huynh Trưởng đã tìm ra hướng đi của cuộc đời, lý tưởng GĐPT.  Đó cũng chính là tin nguyện khi Quy Y, lúc đeo hoa sen, phát nguyện thọ cấp.  Là sứ giả, người Huynh Trưởng thọ nhận di huấn của Tổ Chức.  Đó là nội quy và quy chế đã được un đúc 80 năm qua.  Đó là di huấn của chư sáng lập viên, của quý Anh, quý Chị tiền bối, và cao hơn hết là di huấn của Đức Phật.  Là Sứ Giả - Người Huynh Trưởng tiếp nhận trách nhiệm vụ song hành, tu học rèn luyện, đồng thời dấn thân đem đạo vào đời.  Người Huynh Trưởng luôn luôn tâm niệm "vô ngã", "vị tha", hòa đồng cùng tập thể, thương yêu đùm bọc nhau, dõng mãnh tinh tấn, và đồng thời ở mọi nơi, mọi lúc, và mọi hoàn cảnh, bằng mọi cử chỉ, hành động, bằng ngôn ngữ tác phong của người phật tử chân chính.  Người Huynh Trưởng không xao lảng tu học và sứ mệnh cao cả đã thọ nhận.  Phật Pháp không phải là lý luận suông, không phải là giáo điều.  Đạo Phật đích thật là đạo thực hành.  Người Huynh Trưởng tâm niệm mang niềm tin đến cho các em, đến mọi người, cho quốc gia, dân tộc.  Bằng tâm huyết, bằng hành động cụ thể, thiết thực, bằng gương sáng hiền hòa, nhẫn nhục, tháo vác, "nói ít làm nhiều" và bằng mọi cách khai sáng, biểu lộ tiềm lực và khả năng Từ Bi, Trí Tuệ, và Dũng Mãnh của đạo Phật nhập thế.  Với thời gian ngắn ngủi của một kiếp người, chúng ta nguyện tinh tấn, kiên lập, an lạc, hạnh phúc cho chính mình, cho các em mình, cho gia đình mình, cho tổ chức, cho đạo pháp, cho dân tộc, và cho nhân quần xã hội.

Người Huynh Trưởng đã đi từ đơn vị nhỏ; Đội, Chúng, Đoàn, Liên Đoàn Trưởng, suốt đời vì đàn em mà dạy dỗ thương yêu, vì lý tưởng mà dâng trọn đời mình cho tổ chức.  Uy tín càng ngày càng được xác nhận, lời nói của Trưởng được mọi người tin cậy.  Cuộc sống đạo đức của Trưởng được mọi người yêu quý.

Và giờ đây, xin mời Trưởng chuẩn bị vào hàng lãnh đạo, tiếp tục sứ mạng chịu trách nhiệm sự thịnh suy của tổ chức, qua đề tài :

                                                   NGƯỜI LÃNH ĐẠO

NGƯỜI LÃNH ĐẠO

Người Huynh trưởng chúng ta cũng có lúc nắm giữ cương vị Lãnh Đạo. Liên Đoàn Trưởng lãnh đạo một Liên đoàn, Gia trưởng lãnh đạo một Gia Đình, Trưởng Ban Hướng Dẫn Miền lãnh đạo Tổ Chức GĐPT của một Miền, Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương lãnh đạo Tổ Chức GĐPT toàn quốc.  Ngoài xã hội, dĩ nhiên trong số Huynh Trưởng đang học bài này cũng đã có người đang nắm vai trò Lãnh Đạo.  Và dù không ở trong cương vị Lãnh Đạo Gia Đình Phật Tử đi nữa, thì Người Huynh Trưởng chúng ta cũng phải hiểu vai trò của người lãnh đạo, có như vậy mới có thể góp ý với Người Lãnh Đạo, ngõ hầu phong trào được tiến triển tốt đẹp, đi đúng tôn chỉ, mục đích của GĐPT.  Đó cũng là quyền hạn của tất cả những Huynh Trưởng có cấp.

Trước hết chúng ta phải hiểu rõ hai chữ lãnh đạo.

I.   KHÁI NIỆM VÀ LÃNH ĐẠO

1.  Định danh:

Lãnh là cầm đầu, dìu dắt, trông coi, điều khiển;  đạo là đường.

Lãnh đạo là cầm đầu, là dìu dắt, trông coi, điều khiển một nhóm người, một phong tràocó đường lối phương hướng rõ ràng, nhắm đến một mục đích nào đó.

2.  Phân biệt "lãnh đạo" với "chỉ huy":

Theo như định danh ở trên, thì người lãnh đạo phải là người cầm đầu đốc suất một số người (có khi là thành phần đông đảo quần chúng) để thực hiện những công cuộc hướng đến mục đích đã định, và có đường lối, có kế hoạch rõ ràng, phải chịu trách nhiệm trực tiếp về sự thành bại, thịnh suy của công việc hay của phong trào.  (Tổng Thống là người lãnh đạo một quốc gia.  Giám đốc một xí nghiệp là người lãnh đạo xí nghiệp đó.  Anh Trướng Ban Hướng Dẫn Miền là người lãnh đạo tổ chức GĐPT của một Miền…)

Còn chỉ huy là điều khiển một nhóm người, một bộ phận thi hành một phương án từ cấp trên đưa xuống (Trung đội trưởng chỉ huy một trung đội, Đại đội trưởng chỉ huy một đại đội, Người đốc công chỉ huy công nhân xây dựng của một công trình…  Anh Đoàn trưởng, em Đội chúng trưởng cũng là người chỉ huy chứ không phải là người lãnh đạo, nhưng người chỉ huy trong Tổ Chức Gia Đình Phật Tử khác với người chỉ huy ở các tổ chức khác, điều này chúng ta đã trong bài “Người Đoàn trưởng” ở trại A Dục).  Như vậy có khi công việc thất bại mà người chỉ huy vẫn không chịu trách nhiệm.  Nếu người chỉ huy thực hiện đúng phương án mà vẫn đưa đến thất bại thì trách nhiệm ở cấp trên.  Còn nếu thất bại vì người chỉ huy không thực hiện đúng phương án cấp trên đề ra thì người chỉ huy đó mới hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Anh Đoàn trưởng đoàn Thiếu nam của một đơn vị gia đình không thực hiện đúng theo kế hoạch của liên đoàn nên đoàn Thiếu nam vẫn trì trệ mãi, anh Đoàn trưởng đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với Liên đoàn trưởng.  Nhưng anh Đoàn trưởng thực hiện đúng kế hoạch của Liên đoàn, mà đoàn Thiếu nam vẫn yếu kém thì trách nhiệm ấy không về anh.  Tuy nhiên cả hai trường hợp, anh Liên Đoàn Trưởng vẫn chịu trách nhiệm với Ban Hướng Dẫn Miền vì Liên Đoàn Trưởng là người lãnh đạo Liên đoàn, một đoàn Thiếu nam trì trệ chắc chắn dẫn đến Liên đoàn nam suy yếu.

Như vậy chúng ta đã rõ "Người lãnh đạo" với “Người chỉ huy” khác nhau.  Vua Hàm Nghi là người lãnh đạo phong trào Cần Vương, nhưng người chỉ huy cuộc binh biến đêm 04/07/1885 tại kinh thành là Tôn Thất Thuyết.

3. Tập thể lãnh đạo:

Phương thức lãnh đạo của GĐPT hay nói chung l của Giáo Hội Phật Giáo là "Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách".  Vậy tập thể lãnh đạo là thế nào? Có phải là cả tập thể đứng ra lãnh đạo không? Cả tập thể năm, bảy người (hay nhiều hơn) đứng ra lãnh đạo một tập thể lớn hơn nữa thì làm thế nào mà lãnh đạo được! Đã là lãnh đạo (như đã phân tích trên) thì phải có một người lãnh đạo thôi chứ.  "Tập thể lãnh đạo" tức là lãnh đạo theo đường lối, theo phương án chung của tập thể.  Có một bộ phận giúp cho vị lãnh đạo thực hiện được sứ mệnh của mình (gọi là bộ phận lãnh đạo) trong đó mỗi người được phân công, phụ trách một phần việc và liên đới chịu trách nhiệm với nhau, nên gọi là "cá nhân phụ trách".  Nhưng người hoàn toàn chịu trách nhiệm vẫn là người đứng đầu trong bộ phận đó.  Ban Hướng Dẫn Miền có thể xem là bộ phận lãnh đạo tổ chức GĐPT trong Miền, trong đó mỗi ban viên được phân công phụ trách một phần việc như: Ủy viên Nội vụ phụ trách về vấn đề quản trị Huynh trưởng, thực thị nội quy GĐPT…  Ủy viên Tổ Kiểm phụ trách việc tổ chức, kiểm soát và đôn đốc sinh hoạt của các Đon Vị...  Người điều hành chung hết là anh Trưởng Ban Hướng Dẫn, để thực hiện phương án, kế hoạch của Đại hội Huynh trưởng toàn Miền.  Mọi sự thành bại, các Ban Viên liên đới chịu trách nhiệm, nhưng anh Trưởng ban vẫn là người trực tiếp chịu hoàn toàn trách nhiệm.  Anh Trưởng Ban là người lãnh đạo.

Do vậy, chúng ta thường dùng từ "Ban lãnh đạo" e không được đúng (đáng lẽ phải nói "Bộ phận lãnh đạo") vì: Nếu là "Ban lãnh đạo" thì ai là người lãnh đạo cái ban đó? Hơn nữa đã là ban, có năm bảy người ai cũng đứng ra lãnh đạo được cả ư? Hoặc giả năm bảy người đó đểu đứng ra lãnh đạo cùng một lúc thì làm sao đây?

Vì quen dùng sai từ như vậy mà khi công việc đổ vỡ, không ai là người chịu trách nhiệm.  Một công ty làm ăn thua lỗ ban lãnh đạo công ty họp để rút kinh nghiệm, thì Giám đốc đổ cho vị Tổng thư ký (hay Văn phòng trưởng) vì vị này theo dõi kế hoạch hằng ngày, hàng tháng.  Thế rồi vị Tổng thư ký quy trách nhiệm lại cho anh Chuyên viên kế hoạch.  Chuyên viên kế hoạch thì bảo theo lệnh Giám đốc… và cứ như vậy đổ lỗi quanh cho nhau mà không ai trực tiếp gánh lấy trách nhiệm.

Lại đã có lúc từ "Tập thể lãnh đạo" bị một số người lợi dụng, lãnh đạo dựa theo quyết định của một nhóm người nhỏ, áp đặt, buộc tập thể lớn phải thi hành mà cũng gọi là “Tập thể lãnh đạo”.

 

II.VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO" :

Người lãnh đạo phải xác định rõ được vai trò của mình:

- Hoàn thành sứ mạng mà Tổ Chức, đoàn thể, xí nghiệpđang tin tưởng giao phó cho mình.  

- Phối hợp, dìu dắt, trông coi, điều khiển linh động, nhịp nhàng những bộ phận, những phần hành do mình lãnh đạo, làm cho tổ chức, đoàn thể, xí nghiệp phát triển.

- Phải chịu trách nhiệm thịnh suy của tập thể do mình lãnh đạo.

- Tạo cho được tình đoàn kết thương yêu giữa mọi người trong tập thể.

- Trong GĐPT đã quy định rõ vai trò của từng cấp lãnh đạo qua nội quy và quy chế Huynh trưởng, đồng thời triển khai cụ thể trong các bài học ở chương trình tu học và huấn luyện Huynh trưởng theo từng bậc học.

 

III.     ĐỨC TÍNH MÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẦN PHẢI CÓ :

Đây là vấn đề mấu chốt nhất, mà người lãnh đạo ở bất kỳ cấp nào cũng đều phải luôn trau dồi những đức tính sau:

Dĩ nhiên, nói chung người Huynh trưởng, cần trau dồi những đức tính gì thì trong các bài "Người Huynh trưởng GĐPT" (ở chương trình Lộc Uyển), "Người Đoàn Trưởng" (ở chương trình A Dục), "Người Liên Đoàn Trưởng" (ở chương trinh Huyền Trang) đã đề cập đến.  Ở đây chỉ khắc sâu thêm những đức tính mà người lãnh đạo cần phải có:

1. Giàu tình thương (phát xuất từ Từ Bi)

2. Sáng suốt và bình tĩnh trước mọi việc (phát xuất từ Trí tuệ)

3. Can đảm đối phó với nghịch cảnh (phát xuất từ Dũng mãnh), mạnh dạn giải quyết mọi vấn đề, nhất là những lúc gặp khó khăn, gay cấn, để bênh vực cho quyền lợi của tập thể.

Từ 3 đức tính căn bản này nẩy nở thêm những đức tính sau:

1. Kiên nhẫn (kiên trì và nhẫn nại)

2. Điềm đạm, không nóng nảy, nóng nảy bao giờ cũng hỏng việc

3. Thẳng thắn không ưa dua nịnh.  Người lãnh đạo mà thích dua nịnh không chóng thì chầy phải gánh lấy tai hoạ do kẻ dua nịnh gây ra.

Người lãnh đạo thiếu một trong những đức tính ấy thì khó có thể hoàn thành sứ mệnh của mình.  Để có thể chắc chắn có kết quả tốt trong vai trò lãnh đạo, ngoài các đức tính trên, chúng ta cần lưu ý một số điều sau:

Có thể nói đây là một nghệ thuật lãnh đạo.

 

IV.       NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO

Charles Shwab xuất thân từ một công nhân bình thường nhưng thành đạt rất chóng trong sự nghiệp của ông.  Ông đã thổ lộ bí quyết của mình:

“Cái vốn quý nhất của tôi là năng lực khêu gợi được lòng hăng hái của mọi người.  Chỉ có khuyến khích và khen ngợi mới làm phát sinh và tăng gia những tài năng quý nhất của người ta thôi.  Còn những lời chỉ trích là tai hại nhất, nó chặn đứng những khả năng và sự tiến bộ của kẻ làm công”.

Một lần hai cha con triết gia R. W Emerson đưa con bê vào chuồng. Nhưng họ không nghĩ đến điều mà con bê muốn nên cha kéo, con đẩy mà bê vẫn ra sức trì lại.  Cô gái giúp việc thấy vậy, đến nhử con bê, đưa ngón tay vào mõm nó như mẹ cho con bú, con bê ngoan ngoãn vừa ngậm ngón tay vừa đi vào chuồng theo hướng dẫn của cô ta.  Điều đó cho thấy cái bí quyết để người khác theo mình là “phải biết người ấy muốn gì và đáp ứng sự ước muốn đó”.

Tổng thống Théodore Roosevelt thu phục được nhân tâm một cách lạ lùng, đến nỗi những người giúp việc cũng sùng bái ông, một người da đen làm bồi phòng cho ông đã viết một cuốn sách nói về đời tư của Théodore Roosevelt để ca ngợi ông.  Chỉ một điều là ông rất quan tâm đến cuộc sống gia đình của những người làm việc cho ông, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn và bao giờ ông cũng tôn trọng họ, gần gũi với họ, kể cả vợ con họ.

Lúc 10 tuổi Andrew Carnegie đã hiểu tâm lý người đời, một hôm cậu bé bắt được một con thỏ cái cùng bầy con mới sanh, Andreu Carnegie không có thức ăn để nuôi, bèn nói với các bạn của cậu "chúng bây chịu khó kiếm lá cây nuôi bầy thỏ thì ta sẽ lấy tên mỗi đứa đặt tên cho một con thỏ con".  Kết quả vô cùng mỹ mãn.  Về sau Andreu Carnegie áp dụng bài học đó vào công cuộc làm ăn của mình và đều thành công tốt đẹp.

Jim Farley (người Ai Nhĩ Lan) mồ côi cha tử lúc 10 tuổi phải đến giúp việc cho một lò gạch, đẩy xe cát.  Nhưng lại có trí nhớ khác thường, nhớ tên tất cả những người vừa quen biết.  Cũng từ cái bi quyết: ai cũng thích được nêu danh tên mình mà dù chưa hề biết đến một cổng trường Đại học nào, năm 46 tuổi ông đã có đến 40 trường Đại học cấp bằng Đại học danh dự và làm Tổng Giám đốc bưu điện, lại vừa là Hội trưởng Ủy Ban Dân Chủ Quốc gia.

Chúng ta có thể rút tỉa một số kinh nghiệm để làm bài học về nghệ thuật lãnh đạo như sau:

1.   Dù mình là người lãnh đạo nhưng đừng bao giờ ra lệnh mà nên dùng những câu “Chúng ta nên làm” hay “nhờ anh (chị) giúp tôi…”

2.   Không tiếc lời khen nhưng dè dặt lời chê dù người cộng sự với mình (nhân viên trong cơ quan, Huynh trưởng trong đơn vị…) có tiến bộ chút ít chúng ta cũng khen ngợi, khích lệ và tán dương họ khi đã đạt kết quả tốt trong công việc.  Nhưng khi phê bình một khuyết điểm, một lỗi lầm, một sự vụng về của họ thì phải nhẹ nhàng khéo léo và nhất là không bao giờ chỉ trích trước đám đông.

3.     Phải biết nhu cầu người khác để dẫn dụ hành động bằng đáp ứng đúng nhu cầu của họ.

4.   Không phản đối, không giải thích dài dòng khi có người không đồng tình với mình mà chỉ biết đặt mình vào địa vị hoàn cảnh của người đó mà suy xét vừa theo lập trường của mình, vừa theo lập trường của họ.  Phải biết tôn trọng ý kiến của người khác.

5.   Phải biết dùng người: tìm hiểu kỹ tính tình, khả năng, sở trường của từng người để phân công công việc giao trách nhiệm phù hợp.  Người vui vẻ bặt thiệp thì đảm nhận phần hành giao tiếp (người nóng nảy tuyệt đối không giao công việc này).  Người chân chất, kỹ lưỡng thì đảm nhiệm công việc kế toán, người cần cù nhẫn nại nên giao những công việc khó khăn hơn.  Còn những người có trình độ chuyên môn thì phân công theo khả năng chuyên môn của họ.

Trong GĐPT cũng thế, Huynh trưởng có khả năng huấn luyện và say mê nghiên cứu thì giao chức vụ Nghiên huấn, Huynh trưởng nào có tính khuôn mẫu nguyên tắc, giao cho chức vụ Nội vụ hay Tổ kiểm, Huynh trưởng năng động phân công làm đời sống trại . . .

6.   Vui vẻ lắng nghe lời phê bình chỉ trích.  Nếu lời phê bình đó đúng thì mình phải kịp thời sửa chữa tính tình hay sự việc của mình.  Nếu cảm thấy lời phê bình đó không đúng, ta nên xin thêm vài lời nhận xét của vài người khác nhất là của bậc thầy mình hay bậc đàn anh của mình, khi đa số đều nhận lời phê bình kia không đúng thì ta cũng giữ thái độ im lặng, không thanh minh bằng lời nói mà chỉ thanh minh bằng việc làm.

7.   Làm việc phải có kế hoạch hàng tháng, hàng năm và phải có kế hoạch dài hạn 3 năm, 5 năm, 10 năm.  Hàng tuần, hàng ngày cũng phải có chương trình cụ thể.

8. Luôn luôn niềm nở với mọi người “Giữ nụ cười trên môi”.

9. Cố gắng nhớ tên của những người mình đang lãnh đạo càng nhiều càng tốt, nhớ cả ngày sinh để chúc mừng sinh nhật thì rất tốt.

10. Quan tâm đến hoàn cảnh của mọi người trong tập thể, tìm cách giúp đỡ những người gặp khó khăn.

* Một điều không thể quên được là luôn luôn nhớ "sự tương hệ giữa người lãnh đạo và những người cộng sự" trong bài BỔN PHẬN NGƯỜI PHẬT TỬ ở chương trình bậc Trì.  

- Giao công việc vừa khả năng, vữa sức khỏe.

- Định mức lương thích đáng, cung cấp thuốc men khi đau ốm.

- Giúp đỡ, trợ cấp khi gặp hoạn nạn.

- Tưởng thưởng khích lệ thích đáng.

Kết hợp 10 điều trên với những đức tính mà người lãnh đạo cần có thì đó Cũng chính là "Bí quyết của người lãnh đạo" người Phật tử bao giờ cũng "Học để mà hành" chứ không phải chỉ "Học để mà biết".

Vậy bài học này có thể là một cẩm nang cho tất cả các anh chị Huynh trưởng khi đảm nhận vai trò lãnh đạo trong GĐPT bất kỳ ở cấp nào.

Nếu anh chị nào đó cũng đang giữ một cương vị lãnh đạo trong xã hội (có thể là một Giám đốc xí nghiệp, có thể là Hiệu trưởng một trường nào đó) thì bài học này càng quý giá hơn.

 

 

Câu hỏi :

01.- Hãy nêu 3 trường hợp điển hình về nghệ thuật lãnh đạo của các Cư Sĩ Tiền Bối mà anh chị tâm đắc ?

02.- Làm thế nào để có thể phát huy đứng đắn tinh thần "Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" trong sinh hoạt của Đơn Vị Gia Đình và Ban Hướng Dẫn Miền ?

03.- Anh Chị nghĩ gì qua phát biểu : ‘’Nói đến Lãnh Đạo, là nói đến Đắc Nhân Tâm’’ – Đúng, Sai ? Hãy ghi lại chân dung thực sự cần có của Người Lãnh Đạo - nhất là Người Lãnh Đạo trong Gia Đình Phật Tử - theo cách nhìn của Quý Anh Chị ?

Bài 5 - Văn Tư Tu

Văn, Tư, Tu (Lắng Nghe, Suy Nghĩ, Thực Tập) còn gọi là Tam Học, một cụm từ quá quen thuộc với những người học Phật trong mọi truyền thống tu tập.  Điều khó khăn chung cho tất cả chúng ta là hiểu Văn, Tư, Tu như thế nào và ứng dụng Văn, Tư, Tu như thế nào cho có lợi ích trong việc tu tập.  Nếu một phật tử Nghe, Suy nghĩ, và Thực hành đúng trong tinh thần Chánh Pháp thì sẽ có lợi cho bản thân, gia đình, và xã hội.  Ngược lại một người phật tử Nghe, Suy nghĩ, và Thực hành không đầy đủ thì không đem lại lợi ích gì cho mình và mọi người xung quanh....(xin nhấn vào đây đễ download bài )

 

Bài 4 - Lục Độ Vạn Hạnh

LỤC ÐỘ VẠN HẠNH

 

Bồ Tát Ðạo; Bồ Tát Hạnh; Bồ Tát Nguyện là chuẩn đích thực tại hay lý tưởng của Bồ Tát độ sinh. Bồ Tát phát nguyện hóa thân vào đời để độ sinh mà không hoàn thành 3 yếu tố: ÐẠO, HẠNH và NGUYỆN thì công hạnh Bồ Tát chưa rốt ráo viên mãn. Công hạnh của Bồ Tát là tu tập cho chính mình, tu tập cho chúng sinh và tu tập cho cả hai hoàn toàn viên mãn – Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Pháp môn của một vị Bồ Tát tu tập để được thành tựu công hạnh viên mãn rốt ráo là Lục Ðộ Vạn Hạnh hay còn gọi là Lục Ba-La-Mật (Sàdpàramità)

Lục Ba La Mật có nghĩa là 6 pháp môn tu tập “đến bờ bên kia” mà Hán dịch là Ðáo Bỉ Ngạn – viên mãn rốt ráo sự việc – Ðộ có nghĩa là vượt qua. Vượt qua khỏi bờ sông sinh tử bên này để đạt đến bờ giác ngộ bên kia.

Lục Ba La Mật là:

1.    Bố Thí Ba La Mật (Dànapàramità)

Sự đem cho một cách rốt ráo viên mãn. Sự đem này có 3 cách:

a.    Tài Thí: Sự đem cho tài vật một cách rốt ráo viên mãn – Bố Thí bất nghịch ý. Trong sự đem cho tài vật phải được xác lập trên 3 phạm trù thanh tịnh:

- Người cho phải thanh tịnh.

- Vật cho phải thanh tịnh.

- Người nhận vật cho phải thanh tịnh.

b.    Pháp thí: Sự đem cho giáo pháp một cách rốt ráo viên mãn – Cúng dường pháp là cúng dường tối thắng. Vì giáo pháp là chiếc bè đưa người qua sông; là phương tiện chuyển mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh. Giáo pháp là phương tiện duy nhất để cho con người nương vào đó mà tu tập để chứng đắc quả Phật.

c.     Vô Úy Thí: Sự đem cho không sợ hãi. Khuyến tấn khích lệ, dẫn dắt chúng sinh vượt qua sự sợ hãi của đêm dài sinh tử, băng qua những đồng hoang của sự sống và sự chết, của sự vô minh vọng động. Ðem sự bình an và hạnh phúc thật sự cho chúng sinh.

Đây là pháp môn thứ nhất mà Bồ Tát phải hoàn thành một cách viên mãn rốt ráo.

2.    Trì Giới Ba La Mật (Sìlapàramità)

Gìn giữ giới luật một cách viên mãn rốt ráo. Giới có nhiều loại:

a.          Năm Giới: Không được sát sanh – Không được trộm cắp – Không được tà hạnh – Không được nói dối – Không được uống rượu.

b.          Tám Giới (Giới Tu Bát Quan Trai): Không được sát sanh – Không được trộm cắp – Không được đam mê sắc dục – Không được nói dối – Không được uống rượu – Không được đeo vàng bạc, ngọc ngà châu báu, xoa ướp nước hoa dầu thơm – Không được nằm gối trên giường cao, rộng lớn, sang trọng – Không được ăn phi thời.

c.           Mười Giới (Sa di Giới): Không được sát sanh – Không được trộm cắp – Không được đam mê sắc dục – Không được nói dối – Không được uống rượu – Không được đeo vàng bạc, ngọc ngà châu báu, xoa ướp nước hoa dầu thơm – Không được ca múa, hát xướng – Không được nằm giường cao, rộng lớn, sang trọng – Không được ăn phi thời –  Không tham lam cất chứa vàng bạc.

d.          250 Giới (Tỳ Kheo Giới)

e.           348 Giới (Tỳ Kheo Ni Giới)

Tất cả các loại Giới trên Bồ Tát thọ trì một cách trang nghiêm, thanh tịnh, rốt ráo viên mãn.

3.    Nhẫn Nhục Ba La Mật (Ksàntipàramita):

Sự kham nhẫn để tu tập một cách rốt ráo viên mãn.

Bồ Tát thương chúng sinh như Mẹ hiền thương con đỏ, cho dẫu trong bất cứ môi trường, hoàn cảnh khó khăn, gian lao nào Bồ Tát vẫn thể hiện lòng Từ Bi mà kham nhẫn để hóa độ, để tu tập như lời Ðức Thế Tôn đã giảng dạy trong Giới Luật:

“Nhẫn nhục đệ nhất đạo

Phật thuyết vô vi tối”

 

Pháp môn tu Nhẫn Nhục là con đường đạo cao cả thứ nhất, là pháp vô vi, tối thượng.

Bồ Tát luôn nhẫn nhục để chinh phục chính mình và chinh phục người khác. Chinh phục chính mình là để sự sân si nóng giận không có cơ duyên dấy khởi. Vì vậy hạt giống Từ Bi luôn được nuôi dưỡng để trưởng thành – hóa độ chúng sinh. Chinh phục người khác là làm cho chúng sinh thấy được bản chất sân hận si mê của bản thân hầu buông bỏ để thành vô sân vô si. Sự nhẫn nhục này được biểu hiện qua hình ảnh của Bồ Tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa, dù Bồ Tát có bị đánh đập, xua đuổi, nặng lời, nhưng Bồ Tát luôn nói rằng: “Tôi không dám khinh Ngài, Ngài tu hành sẽ thành Phật.”

Ðây là pháp môn tu thứ ba mà Bồ Tát tu tập một cách rốt ráo viên mãn.

4.    Tinh Tấn Ba La Mật (Viryapàramità):

Sự siêng năng tu tập một cách rốt ráo viên mãn.

Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật dạy:

“Tinh tấn giữa đám người buông lung

Tỉnh táo giữa đám người mê ngủ

Kẻ sĩ thẳng tiến như con tuấn mã

Bỏ theo sau một lũ ngựa gầy hèn

Hay:

Ta phải có thái độ như đàn voi lâm trận

Mạnh tiến giữa rừng gươm đao giáo mác

Bình tĩnh hứng lấy những nỗi chua cay của đời

Và thản nhiên vững bước trên đường phẩm hạnh.

 

Bồ Tát luôn tinh tấn tu tập để chứng đắc và luôn tinh tấn để hóa độ chúng sanh. Sự tinh tấn này Phật pháp đã dạy:

Tinh tấn phòng hộ những điều ác chưa phát sanh thì không cho phát sanh.

Tinh tấn diệt trừ những điều ác đã phát sanh rồi thì không cho tái phát nữa.

Tinh tấn phát khởi những điều thiện chưa phát sanh thì làm cho phát sanh.

Tinh tấn duy trì những điều thiện đã phát sanh rồi thì làm cho lớn mạnh hơn nữa.

 

Ðây là pháp môn thứ Tư mà Bồ Tát tu tập một cách trang nghiêm rốt ráo viên mãn.

5.    Thiền Ðịnh Ba La Mật (Dhyànapàramità)

Sự Ðịnh tĩnh trong mọi thời xứ một cách rốt ráo viên mãn.

Bồ Tát luôn sống trong Thiền định. Ðây là pháp môn tu tập để giữ tâm ý luôn tỉnh giác, không có vọng động dấy khởi làm loạn tâm. Thiền định của Bồ Tát được hòa tan vào cuộc sống bình thường của chúng sinh, trong khi Bồ Tát vân du hóa độ. Như Bồ Tát Ðại Bi Quán Thế Âm có ngàn tay, ngàn mắt để thấy và nghe âm hưởng, cảm niệm của chúng sanh mà Bồ Tát cứu độ, nhưng lúc nào Bồ Tát cũng ở trong Thiền định. Như Bồ Tát Ðại Nguyện Ðịa Tạng ở trong địa ngục để độ chúng sinh như lời phát nguyện:

Chúng sinh độ tận

Phương chứng Bồ Ðề

Ðịa ngục vị không

Thệ bất thành Phật

 

Ðộ hết chúng sinh

Mới chứng Bồ Ðề

Ðịa ngục chưa không

Thề không thành Phật

 

Dù ở trong địa ngục nhưng tâm luôn thiền định, không bị những hình ảnh và sự khổ đau của địa ngục chi phối. Như Bồ Tát Ðại Hạnh Phổ Hiền làm tất cả những công việc độ sinh, nhưng việc làm nào cũng nằm trong ý nghĩa và giá trị của Phổ Hiền Hạnh – tạo sự bình an hạnh phúc cho khắp chúng sinh. Chỉ có tâm định tĩnh thanh lương mới tạo được sự bình an hạnh phúc cho con người, bằng ngược lại chỉ là sự đau khổ và bất an. Như Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù dùng trí tuệ vô lậu, nhứt thiết chủng trí, trí tuệ giác ngộ giải thoát để cứu độ chúng sinh và hoàn thành công năng tu tập chứng đắc của chính Bồ Tát qua con đường trí tuệ siêu việt ấy. như vậy Thiền định là cảnh giới sống và hành hoạt của Bồ Tát .

6.    Trí Tuệ Ba La Mật (Prajnàpàramità)

Pháp môn tu tập bằng trí tuệ cuối cùng của Bồ Tát một cách rốt ráo, viên mãn.

Một pháp môn tu được tán dương là “Duy Tuệ Thị Nghiệp” - lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Tạo dựng sự nghiệp để tu tập đó chính là trí tuệ. Giáo pháp tam vộ lậu học: GIỚI, ÐỊNH, HUỆ –  Nhơn Giới sanh Ðịnh, nhơn Ðịnh phát Huệ. Huệ là thành quả tối hậu của Giới và Ðịnh. Nhờ Giới và Ðịnh mới có trí tuệ Vô Lậu – Trí tuệ xuất thế gian là con đường tu tập và công hạnh độ sinh của Bồ Tát dùng trí tuệ vô lậu này mà thành tựu

Vậy, Lục Ba-La-Mật, hay Lục Ðộ Vạn Hạnh là pháp môn tu của chư vị Bồ Tát. Y cứ trên pháp môn tu này mà Bồ Tát thành tựu vạn hạnh độ sinh trong ý nghĩa:

Thật tế lý địa bất thọ nhất trần

Phương tiện môn trung bất xả nhất pháp

 

Trên thực tế của cuộc sống, trong ý nghĩa của thế gian Bồ Tát tu tập và độ sinh hoàn toàn không mảy may bị cấu trần ô nhiễm. Trong tất cả mọi phương tiện độ sinh ấy Bồ Tát không hề bỏ một pháp nào.

 

Như vậy, Giáo pháp Lục Ba La Mật là một giáo pháp lý tưởng siêu thoát cho những ai, hành giả nào phát nguyện tu tập để độ sinh. Giáo pháp Lục Ba La Mật là những đức tính, yếu tố kiến tạo một người toàn thiện, tri thức và vượt thoát để thể nhập tự tánh thanh tịnh, đồng thời ban vui cứu khổ đến mọi loài chúng sinh trong cuộc trần ai này.

Ðây là tinh thần Ðại thừa Phật giáo – Bồ Tát Ðạo – Bồ Tát Hạnh và Bồ Tát Nguyện. Con đường Bồ Tát đi. Việc làm của Bồ Tát làm và ước nguyện của Bồ Tát lập nguyện độ sinh vô cùng tận:

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

 

Bồ Tát có ý nghĩa là giác hữu tình, hay hữu tình giác. Là một chúng sinh được giác ngộ, rồi đem sự giác ngộ ấy mà giác ngộ cho các chúng sinh khác được giác ngộ như Bồ Tát, mà Giáo pháp Lục Ba La Mật là phương tiện thù thắng, cao cả, tối thượng để Bồ Tát thi hành công hạnh tu tập và độ sinh:

Gate, gate, pàragate, pàrasamgate, bodhi, Svàha!

Ði qua, đi qua, qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia.

 

 

Thích Nguyên Siêu

~o0o~

 

 

 

 

 

5 Câu Hỏi

LỤC ÐỘ VẠN HẠNH

 

 

1.         Tại sao Bồ Tát phải có đủ pháp môn Lục Ðộ Vạn Hạnh mới tu tập và độ sinh một cách rốt ráo viên mãn ? Nếu thiếu một độ trong 6 độ có được không ? Hãy giải thích.

 

2.          Lục Ðộ Vạn Hạnh có phải là một pháp môn tu tập và độ sinh thù thắng cho bất cứ ai phát nguyện hành trì đều mang lại lợi ích trên tiến trình tu chứng ? Hãy nêu một vài chứng minh qua đời sống hằng ngày của người Phật tử?

 

3.          Người tu Phật có thể áp dụng Lục Ðộ Vạn Hạnh vào xã hội văn minh, khoa học, kỹ thuật của thế giới Tây Phương hiện thời ? Giải thích.

 

4.         Tại sao Ðại Thừa Phật giáo lại đề bạt pháp môn Lục Ðộ Vạn Hạnh là pháp môn tu của Bồ Tát, và phải cần đủ trong công cuộc độ sinh ?

 

5.         Là một đoàn sinh của tổ chức GÐPT có phải học hỏi, nghiên cứu và thực tập Lục Ðộ Vạn Hạnh một cách nghiêm túc trong đời sống hàng ngày để từ đó thăng tiến trên lộ trình tu tập giác ngộ như Bồ Tát ?

 

~o0o~

 

 

 

 

Các Bài Viết Mẫu Về "Bát Chánh Đạo"

Kính chuyển đến Quý anh chị lời nhắn của Thượng Tọa Viện Chủ Chùa Trúc Lâm như sau:

"Thầy gởi cho anh 9 bài mẫu . Chín bài này có điểm cao nhất trong số 69 bài Thầy đã chấm điểm . Chín bài đã đạt số điểm từ 96 đến 99/100 . Để bảo vệ quyền hạn riêng tư (privacy) của mỗi cá nhân trong 9 bài này, Thầy đã xóa tên và Pháp Danh cũng như tên chúng và tên miền . Hãy gởi cho tất cả trại sinh đọc để biết . Đây xem như là những đáp án cho 2 câu hỏi mà Thầy đã đặt ra cho bài Hàm Thụ về Bát Chánh Đạo . Tùy sự tìm hiểu, mỗi trại sinh có thể đọc hết 9 bài này để biết và so sánh với bài của mình . Nếu trại sinh nào có điểm thấp hơn 9 bài mẫu này, sẽ biết lý do như thế nào sau khi đọc những bài mẫu "đáp án" này "

Sau đây là 9 bài mẫu dưới dạng pdf:

1. Bài Viết Mẫu đạt 99/100 điểm.

2. Bài Viết Mẫu đạt 98/100 điểm : bài 1bài 2bài 3.

3. Bài Viết Mẫu đạt 97/100 điểm: bài 1, bài 2 .

8. Bài Viết Mẫu đạt 96/100 điểm: bài 1, bài 2, bài 3.

 

 

Khóa Tu Học Huynh Trưởng và Đoàn Ngành Thanh Thiếu Toàn Quốc

Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ sẽ tổ chức Khóa Tu Học dành riêng cho Huynh Trưởng và Đoàn Sinh ngành Thanh Thiếu tại Tu Viện Lộc Uyển.  Xin mời quý anh chị vào những link dưới đây để xem Thông TưPhiếu Ghi Danh.

Báo-Cáo Tài-Chánh Hiện-Đại

Tập tài-liệu này do Huynh-trưởng Thiện-Hiền thực hiện gồm 2 phần sau đây :
 
1 - Phần giới-thiệu  -  nhằm mô-tả các báo-cáo hiện-đại  -  viết theo dạng Microsoft PowerPoint ( gồm có 53 slides ), để hướng dẫn người đọc có một khái-niệm căn-bản về các báo-cáo . Tên của phần nhu-liệu này là  BCTCHD-TAILIEU1.ppt  , BCTCHD-TAILIEU2.ppt BCTCHD-TAILIEU3.ppt 
 
2 - Phần thực-hiện  -  nhằm cung cấp một trang kiến-trúc điện-tử - viết theo dạng Microsoft Excel , để giúp người xử-dụng thực-hiện các báo-cáo .Tên của phần nhu-liệu này là BCTCHD-THUCHIEN.xls
 

 

.

 

Bát Quan Trai Giới

Bát Quan Trai Giới
Thượng Tọa Thích Đồng Trung
Bài MP3 Bát Quan Trai Giới (Press play) Download

Bài MP3 Pháp Sư Huyền Trang 1 (Press play) Download

Bài MP3 Pháp Sư Huyền Trang 2 (Press play) Download


Khi còn là chúng sanh, thì chắc chắn ai cũng có sự sai lầm tội lỗi. Ðể tránh sự sai lầm ấy, Ðức Phật đã tùy theo mỗi trình độ mà chế ra các giới cho các hàng đệ tử vâng giữ. Giới là những điều răn cấm, với mục đích duy nhất là ngăn ngừa các ác hạnh, giúp chúng sanh có một đời sống an bình hạnh phúc.

Nghiệp Báo - Thích Từ Lực

Download right click and select "save as" or click the play button below to listen

Watch this video

Bát Chánh Đạo

BÁT CHÁNH ĐẠO

Bài MP3 (Press play) Download


Xin mời vào đây để trao đổi và thảo luận

Dẫn nhập:

 

Đạo Phật đã có mặt trên thế gian nầy sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề, bên dòng sông Ni Liên thuộc thành phố Bodhgaya, nay là quận hạt Gaya của tỉnh bang Bihar, Ấn Độ.  Bài pháp, “Tứ Diệu Đế” là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật đã thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển thuộc thành phố Sarnath, tỉnh bang Uttah Pradesh, Ấn Độ ngày nay. 

Page 1 of 2

  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  Next 
  •  End 
  • »